Lý thuyết sóng Elliott được Ralph Nelson Elliott xây dựng vào những năm cuối thập kỉ 1920 trong khi ông quan sát và tìm hiểu thị trường chứng khoán. Thuyết này chịu nhiều ảnh hưởng từ thuyết Dow (Dow theory) và bản thân R. N. Elliott cho rằng thuyết của ông là một bổ sung cần thiết cho thuyết Dow.
Giới thiệu về lý thuyết Elliott Wave
Lý thuyết sóng Elliott được Ralph Nelson Elliott xây dựng vào những năm cuối thập kỉ 1920 trong khi ông quan sát và tìm hiểu thị trường chứng khoán. Thuyết này chịu nhiều ảnh hưởng từ thuyết Dow (Dow theory) và bản thân R. N. Elliott cho rằng thuyết của ông là một bổ sung cần thiết cho thuyết Dow.
Elliott nhận thấy thị trường biến động theo những chu kỳ, phản ánh các quyết định, phản ứng, kể cả tâm lý của con người tham gia giao dịch trong thị trường. Ông lập luận rằng những đợt bứt phá đi lên cũng như rơi tự do của thị trường luôn luôn bộc lộ qua một số mô hình cơ bản, cụ thể là dưới dạng sóng (waves). Các sóng này có thể lặp đi lặp lại về hình thù, nhưng không nhất thiết lặp lại về thời gian và độ lớn.
Vài nét cơ bản về mô hình Elliott Wave
Thuyết sóng Elliott bao gồm ba khía cạnh: mô hình (pattern), tỉ lệ (ratio) và thời gian (time). Quan trọng nhất là mô hình và kém quan trọng hơn cả, theo giới phân tích, là yếu tố thời gian. Mô hình (pattern) ở đây gồm các sóng và sự hình thành nên các sóng. Việc tính toán tỉ lệ tương quan (ratio) của các bước sóng giúp xác định điểm hỗ trợ và điểm kì vọng cho bước sóng tiếp theo. Cuối cùng, yếu tố thời gian dùng để khẳng định lại các mô hình và tỉ lệ không được giới phân tích chú trọng lắm do độ chuẩn xác thấp trong việc dự đoán tương lai.
Mô hình (Pattern)
Theo thuyết sóng Elliott, thị trường chứng khoán diễn tiến trong một chu kỳ gồm 8 bước sóng: 5 bước sóng tăng và 3 bước sóng giảm hoặc ngược lại, 5 bước sóng giảm và 3 bước sóng tăng. Trong giai đoạn thị trường đi lên (impulsive phase), các sóng 1,3,5 là sóng tăng (impulsive waves) trong khi sóng 2 và 4 đi ngược lại với xu hướng chính. Hai sóng này được gọi là sóng điều chỉnh (corrective waves). Và sau khi thị trường đã trải qua 5 sóng của giai đoạn đi lên, quá trình điều chỉnh (corrective phase) diễn ra với 3 sóng a,b và c như trong hình H.1.


Mô hình 8 bước sóng trên là khuôn mẫu của thuyết Elliott, không thay đổi về hình thù nhưng có độ lớn rất đa dạng. Elliott đã phân độ lớn của sóng thành 9 cấp độ từ "chu kì vĩ đại" (Grand Supercycle) kéo dài lên đến hàng trăm năm đến chu kì nhỏ nhất (Subminuette) chỉ bao quát vài giờ giao dịch. Vì vậy, mô hình 8 bước sóng của một chu kỳ sẽ đóng vai trò một bước sóng của một chu kỳ lớn hơn. Khái niệm quan trọng ở đây là sóng có thể bao quát sóng nhưng mô hình sóng thì không thay đổi.
Sóng bao quát sóng
Quan sát hình H.2, mỗi bước sóng đánh số (1) đến (5) được cấu thành từ 5 hoặc 3 bước sóng nhỏ hơn. Quá trình tách nhỏ các bước sóng tuân theo quy luật về xu hướng. Các bước sóng (1), (3), (5) là sóng tăng, cùng chiều với xu hướng của sóng 1 lớn hơn nên bao gồm 5 bước sóng nhỏ hơn. Trong khi đó, sóng (2) và (4) đi ngược chiều với thị trường nên chỉ cấu thành từ 3 bước sóng nhỏ hơn. Tương tự cho các sóng điều chỉnh (a), (b), (c).


Hình H.2 : Sóng bao quát sóng
Trông có vẻ khá đơn giản nhưng khả năng xác định tổ hợp 3 sóng hay 5 sóng rất quan trọng trong quá trình phân tích và dự đoán thị trường. Cụ thể hơn, một tổ hợp 5 sóng cho biết xu hướng chính đang diễn ra sẽ được duy trì trừ khi tổ hợp đó là bước sóng thứ năm của một chu kỳ lớn hơn. Ở hình 2, tổ hợp 5 sóng của sóng (1) chỉ là bước khởi đầu của xu hướng tăng chính cho đến khi sóng (5) hoàn tất, kết thúc giai đoạn tăng của thị trường. Bằng cách này, nhà đầu tư có thể quyết định chốt lời trong phạm vi bước sóng cuối của sóng (5) trước khi thị trường đi vào giai đoạn giảm giá.
Trong giai đoạn thị trường giảm giá, tổ hợp 3 sóng tăng (a, b, c) sẽ là tín hiệu cho đà giảm giá tiếp theo của thị trường. Và sự xuất hiện của tổ hợp 5 sóng tăng có thể là dấu hiệu của một xu hướng mới cho thị trường. Cần phải lưu ý rằng sóng điều chỉnh (corrective waves) luôn luôn là một mô hình 3 bước sóng. Nếu bạn nhìn thấy mô hình 5 bước sóng, chắc hẳn đấy là xu hướng chính của thị trường chứ không là một đợt điều chỉnh.


Hình H.3 ở trên là một ví dụ cho mô hình sóng Elliott ở thị trường chứng khoán Việt Nam. Trong hình là một chu kỳ gồm 8 bước sóng của giá cổ phiếu VNM trong giai đoạn tháng 5 đến tháng 8 năm 2008. Giai đoạn tăng gồm 5 sóng nhỏ được đánh số từ 1 đến 5. Trong đó, hai sóng 2 và 4 là sóng điều chỉnh - đi ngược lại với xu hướng chính. Đợt điều chỉnh giá gồm 3 sóng a,b,c với sóng b là sóng điều chỉnh. Quan sát kĩ 3 sóng trong đợt giảm giá, nhà đầu tư sẽ nhận thấy điểm thấp nhất của đợt sóng c lại cao hơn điểm thấp nhất của sóng a, khác với mô hình kiểu mẫu mà Elliott đã nêu.
Sóng điều chỉnh (Corrective Waves)
Sự thật là sóng điều chỉnh không được định nghĩa rõ ràng như sóng tăng/giảm theo xu hướng (impulsive waves). Một điều có thể khẳng định là sóng điều chỉnh luôn là mô hình 3 sóng. Ở đây, ta phân loại sóng điều chỉnh theo 3 nhóm: nhóm hình răng cưa (zig-zags), nhóm sóng ngang (flats), và nhóm hình tam giác (triangles).


Nhóm hình răng cưa (Zig-zags): là đợt sóng điều chỉnh với 3 sóng, được cấu thành từ các sóng nhỏ hơn theo thứ tự 5-3-5. Nghĩa là mỗi sóng a,b,c sẽ lần lượt bao gồm 5,3 và 5 sóng nhỏ hơn.
Nhóm sóng ngang (flats): khác với sóng răng cưa, sóng điều chỉnh thuộc nhóm này được chia thành các sóng nhỏ hơn theo thứ tự 3-3-5. Sóng a của nhóm này chỉ bao gồm 3 sóng nhỏ thay vì 5 như ở sóng hình răng cưa.


Nhóm hình tam giác (triangles): sóng điều chỉnh dạng này thường xuất hiện ở sóng thứ 4 của mô hình 5 sóng hoặc sóng b của mô hình 3 sóng. Dạng sóng này vừa là sóng tăng vừa là sóng giảm do xuất hiện nhiều nhất ở sóng thứ 4 của một đợt tăng giá. Tăng ở chỗ chúng báo hiệu sẽ có một đợt sóng tăng giá (đợt sóng 5). Giảm ở chỗ sóng 5 có thể là đỉnh điểm của đợt tăng giá, thị trường nhiều khả năng quay đầu.


Quy luật xen kẽ của sóng điều chỉnh
Quy luật này dựa trên quan sát rằng thị trường rất hiếm khi diễn ra hai mô hình sóng liên tiếp giống nhau. Nếu một mô hình đỉnh sóng đã xảy ra thì đỉnh sóng tiếp theo thông thường sẽ rơi vào một mô hình khác. Quy luật này không giúp chúng ta xác định thị trường tiếp theo sẽ diễn ra thế nào, nhưng cho ta biết viễn cảnh sẽ không xảy ra. Cụ thể hơn, quy luật này sẽ giúp xác định mô hình sóng điều chỉnh sẽ diễn ra tiếp theo. Nếu như sóng điều chỉnh thứ 2 là dạng sóng đơn giản thì sóng điều chỉnh thứ 4 sẽ là mô hình phức tạp hơn, như mô hình sóng tam giác chẳng hạn.
Những quy luật xác định sóng
Mặc dù việc xác định các sóng là hoàn toàn chủ quan nhưng có 3 quy luật để xác định sóng luôn luôn tồn tại. Những quy luật này được rút ra từ nguyên lý cơ bản của lý thuyết sóng Elliott.
Quy luật thứ nhất: Sóng số 2 không thể giảm sâu hơn 100% sóng số 1.


Quy luật thứ 2:


Sóng số 4 không thể giảm qua đỉnh của sóng số 1
Quy luật thứ 3:


Xét những bước sóng tăng 1, 3, 5, sóng số 3 không bao giờ là sóng ngắn nhất (thông thường sóng thứ 3 là sóng dài nhất)
Nguyên nhân chính làm cho lý thuyết sóng Elliott trở nên khó hiểu vì các bước sóng xuất hiện dưới nhiều mức độ khác nhau, trong một bước sóng lớn có thể có nhiều bước sóng nhỏ. Điều này làm gia tăng rủi ro dự báo sai. Vì thế nhà đầu nên thận trọng chỉ nên bán ra ở bước sóng nhỏ khi xu hướng của sóng lớn là giảm giá và ngược lại mua vào khi xu hướng chính là tăng giá.
Sóng Elliott tại thị trường chứng khoán Việt Nam
Thị trường chứng khoán Việt Nam là một thị trường mới nổi với quy mô tương đối nhỏ. Do một số yếu tố giới hạn như thời gian giao dịch, biên độ dao động, mô hình sóng Elliott sẽ dễ được nhận ra trong khoảng thời gian giao dịch dài ngày hơn ngắn ngày. Các sóng Elliott cấp độ nhỏ như subminuette nói ở trên rất ít xuất hiện trên VN-Index.


Hình H.4 cho thấy một chu kỳ sóng Elliott hoàn chỉnh của VN-Index trong giai đoạn đầu tháng 2 đến đầu tháng 9/2008. Trong giai đoạn này, nhà đầu tư có thể nhận ra sự hiện diện của quy luật xen kẽ đề cập phía trên. Sóng 2 là một mô hình gồm 3 sóng nhỏ. Và sóng điều chỉnh 4 tiếp đó chỉ là một bước sóng đơn giản. Thị trường đã không phản ứng như nhau trong hai lần điều chỉnh liên tiếp. Sau khi hoàn thành 5 sóng giảm giá (impulsive phase), thị trường đi vào giai đoạn điều chỉnh gồm 3 sóng tăng. Có nhiều quan sát khác nhau cho giai đoạn từ tháng 9/2008 đến nay. Nhìn chung thị trường vẫn trong giai đoạn giảm giá (impulsive phase) và vẫn chưa hoàn thành bước sóng thứ 5. Nhà đầu tư có thể tính toán độ dài của bước sóng này để mua vào trước khi thị trường điều chỉnh.
(Đặng Minh Nhật - Tạp chí TTCK CN)

